Vì sao Việt Nam có Công hàm phản đối Trung Quốc

17/05/2020 1:10 chiều

Thưa ông ông có thể giải thích ý nghĩa pháp lý Quốc tế của các Công hàm VN lưu tại LHQ, đặc biệt là Công hàm số 22/HC-2020?

TS Nguyễn Bá Sơn: Việc các quốc gia thành viên LHQ gửi Công hàm hay các văn kiện cho Tổng Thư ký LHQ và yêu cầu lưu hành tới các thành viên là việc làm bình thường theo thông lệ ngoại giao và thực tiễn tại LHQ. Bản thân Việt Nam đã có hàng chục công hàm, văn bản lưu hành ở LHQ liên quan đến các vấn đề ở Biển Đông từ trước đến nay.

Từ góc độ luật pháp quốc tế, việc các quốc gia bày tỏ quan điểm của mình, bác bỏ hay ủng hộ quan điểm, lập trường của một quốc gia khác xuất phát từ một số nguyên tắc trong luật pháp quốc tế. Trong học thuyết và thực tiễn của Luật quốc tế có một nguyên tắc rất quan trọng liên quan đến biên giới, lãnh thổ – đó là nguyên tắc “ngầm thừa nhận” (acquiesence).

Theo lý giải của Tòa án công lý quốc tế (ICJ), ngầm thừa nhận có nghĩa là sự công nhận một cách gián tiếp đối với hành vi đơn phương của một quốc gia khác và được quốc gia khác đó coi như sự đồng ý.

Trong án lệ Malaysia/Singapore, khái niệm “ngầm thừa nhận” này được Tòa ICJ giải thích thêm rằng việc im lặng cũng có giá trị như việc lên tiếng phát biểu để thể hiện sự đồng ý đối với một hành vi hay quan điểm của quốc gia khác, nếu như hành vi hay quan điểm đó đòi hỏi quốc gia liên quan phải trả lời.

Các công hàm vừa qua của Trung Quốc, Malaysia, Philippines ở các góc độ khác nhau thể hiện các yêu sách có liên quan đến lãnh thổ hoặc các vùng biển của Việt Nam.

Do vậy, Việt Nam đương nhiên phải thể hiện quan điểm chính thức của mình thông qua việc gửi các công hàm ngoại giao đến Tổng Thư ký LHQ. Việc không phản hồi có thể bị diễn giải là ngầm thừa nhận yêu sách của các nước đó, như ICJ đã nói trong vụ Malaysia/Singapore.

Công hàm số 22/HC-2020 là phản hồi của Việt Nam đối với 2 công hàm ngày 12-12-2019 và ngày 23-3-2020 của Trung Quốc tại LHQ.

Trong 2 Công hàm Trung Quốc nhắc lại những yêu sách vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam tại Biển Đông, đồng thời đi ngược lại luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của LHQ về Luật Biển (UNCLOS) 1982.

Đó là yêu sách chủ quyền lãnh thổ đối với toàn bộ các quần đảo/nhóm đảo ngoài khơi Biển Đông, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam; yêu sách vùng biển đầy đủ cho toàn bộ các quần đảo/nhóm đảo nói trên; yêu sách về “các quyền lịch sử” ở Biển Đông.

Chẳng những vậy, trong Công hàm CML/14/2019 ngày 12-12-2019, Trung Quốc còn cho rằng yêu sách của mình “tuân theo pháp quốc tế và thực tiễn liên quan”, rằng các yêu sách của Trung Quốc “được cộng đồng quốc tế biết đến”.

Trung Quốc cũng yêu cầu Tổng Thư ký LHQ lưu hành các công hàm của mình đến tất cả các nước thành viên.

Với tất cả những đòi hỏi phi lý, vi phạm luật pháp quốc tế và ý đồ sử dụng vỏ bọc pháp lý, cũng như diễn đàn LHQ để biện hộ và quảng bá lập trường của Trung Quốc, thì đây là một trường hợp điển hình về một hoàn cảnh đòi hỏi quốc gia liên quan phải lên tiếng, nếu không sẽ bị coi là ngầm thừa nhận những nội dung được nêu ra trong hai Công hàm nói trên.

Vì vậy, việc Việt Nam có công hàm bác bỏ những yêu sách vô lý của Trung Quốc trên Biển Đông là điều đương nhiên, phù hợp thông lệ và luật pháp quốc tế.

Điểm quan trọng nhất:

Công hàm diễn giải rõ việc áp dụng các quy định của Công ước vào các cấu trúc ngoài khơi Biển Đông với 3 điểm chính,

khẳng định (i) Vùng biển của các cấu trúc luôn nổi tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa phải được xác định phù hợp với Điều 121(3) của Công ước, tức là các đảo đá không thể duy trì đời sống con người hay có đời sống kinh tế riêng, không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của riêng chúng;

(ii) Các nhóm đảo tại Biển Đông, bao gồm quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, không có đường cơ sở được vẽ bằng cách nối liền các điểm ngoài cùng của các cấu trúc xa nhất, tức là việc áp dụng đường cơ sở quần đảo hay đường cơ sở thẳng bao quanh các cấu trúc xa nhất của các nhóm đảo đó để tạo thành một thực thể đơn nhất và yêu sách các vùng biển cho thực thể đơn nhất đó là không phù hợp với quy định của Công ước;

(iii) Các bãi ngầm hoặc cấu trúc lúc chìm lúc nổi không phải là đối tượng thụ đắc lãnh thổ và không có vùng biển riêng; điều này cũng có nghĩa là việc chiếm đóng phi pháp và tiến hành bồi đắp, xây đảo nhân tạo tại các bãi ngầm hay cấu trúc lúc nổi lúc chìm không thể làm thay đổi quy chế pháp lý đã được quy định trong Công ước của các cấu trúc đó.

Đây là quan điểm hoàn toàn phù hợp luật pháp quốc tế như đã được khẳng định lần đầu tiên trong án lệ Qatar/Bahrain (2001) tại ICJ và tiếp đó được nhắc lại bởi các cơ quan tài phán quốc tế như ICJ trong các án lệ Malaysia/Singapore (2008) và Nicaragua/Colombia (2012) hay Toà trọng tài vụ kiện Biển Đông (2016) của Philippines.

Tuoitre

Facebook Comments
Loading...

Tin Liên Quan